Chuyên Đề Thực Tập Hoạt Động Của Văn Phòng Luật Sư, FREE

📣📣  Download Free !!! Download Ngay !!! Chuyên Đề Thực Tập Hoạt Động Của Văn Phòng Luật Sư sẽ là một trong những đề tài chuyên đề  chắc hẳn đang được các bạn sinh viên quan tâm và tìm kiếm, để không làm mất nhiều thời gian của bạn. Bài viết sau đây chúng tôi sẽ giới thiệu đến cho các bạn nguồn tài liệu mà mình đã tiến hành liệt kê bao gồm chương một cơ sở lý luận về hoạt động của văn phòng luật sư,chương hai thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của văn phòng luật sư nguyễn hồng lạc tại phường hiệp thành quận 12 thành phố hồ chí minh với những nội dung mà mình đã liệt kê sau đây hy vọng sẽ mang đến cho bạn thêm nhiều kinh nghiệm đa dạng và hấp dẫn hơn để bạn có thể triển khai tốt bài làm của mình.

Nếu có nhu cầu làm bài hoàn thiện theo nội dung chủ đề tương tự các bạn có thể tham khảo dịch vụ làm chuyên đề thực tập của chúng tôi, hiện nay chúng tôi đang có các chính sách ưu đãi giảm giá bài viết chất lượng, không đạo văn, chi phí hợp lý cho các bạn sinh viên nên các bạnChuyê có thể hoàn toàn yên tâm khi đến với dịch vụ của mình. Tất cả mọi vấn đề bên mình sẽ giải quyết trong tích tắc chỉ cần bạn tìm đến ngay dịch vụ nhận làm chuyên đề thực tập của chúng tôi qua zalo/telegram : 0934.573.149 để được tư vấn báo giá làm bài chuyên đề và hỗ trợ nhanh nhất có thể nhé. Báo cáo

Chương I Cơ Sở Lý Luận Về Hoạt Động Của Văn Phòng Luật Sư

1. Khái niệm về luật sư, nghề luật sư và pháp luật về luật sư

Trước khi bàn đến khía cạnh pháp luật về luật sư, chúng ta cấn hiểu thế nào là luật sư và nghề luật sư.

Quyền bào chữa và quyền được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp là một trong những quyền cơ bản của công dân trong nhà nước pháp quyền; công dân có thể tự bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc nhờ người khác bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Toà án. Xuất phát từ nhu cầu đó, luật sư và nghề luật sư đã hình thành và phát triển cách đây hàng trăm năm ở nhiều nước trên thế giới.

1.1.Khái niệm về luật sư

Luật sư là một chức danh tư pháp độc lập, chỉ những người có đủ điều kiện hành nghề chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện việc tư vấn pháp luật, đại diện theo ủy quyền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cá nhân, tổ chức và nhà nước trước tòa án và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác”. Điều 2 Luật Luật sư (29/6/2006) ghi nhận, “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Tiêu chuẩn luật sư được quy định tại Điều 10 Luật Luật sư như sau: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng Cử nhân Luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành Luật sư.

Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 10 của Luật này muốn được hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư.

XEM THÊM :Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp Tại Công Ty Luật

1.2. Khái niệm về nghề luật sư

Ở Việt Nam, nghề luật sư là một nghề luật, trong đó các luật sư bằng kiến thức pháp luật của mình, độc lập thực hiện các hoạt động trong phạm vi hành nghề theo quy định của pháp luật và quy chế trách nhiệm nghề nghiệp, nhằm mục đích phụng sự công lý, góp phần tích cực bảo vệ pháp chế và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN.

Nghề luật sư không giống như những nghề bình thường khác vì ngoài những yêu cầu về kiến thức và trình độ chuyên môn thì yêu cầu về việc hành nghề luật sư còn phải tuân thủ theo quy chế đạo đức nghề nghiệp. Đây là một nét đặc thù riêng của nghề luật sư và nét đặc thù này tác động sâu sắc đến kỹ năng hành nghề, đặc biệt là kỹ năng tranh tụng của luật sư. Về tính chất, hoạt động nghề nghiệp của luật sư bao gồm ba tính chất: trợ giúp, hướng dẫn và phản biện.

– Tính chất trợ giúp: là sự giúp đỡ, bênh vực hoàn toàn vô tư, không vụ lợi của luật sư cho những người ở vào vị thế thấp kém thường bị ức hiếp, bị đối xử bất công trái pháp luật trong xã hội hay những người như người nghèo, người già đơn côi, người chưa thành niên mà không có sự đùm bọc của gia đình. Hoạt động trợ giúp của luật sư đối với những đối tượng này không chỉ là bổn phận mà còn là thước đo lòng nhân ái và đạo đức của luật sư.

– Tính chất hướng dẫn: là việc hướng dẫn cho đương sự hiểu đúng tinh thần và nội dung của pháp luật để biết cách xử sự tháo gỡ vướng mắc của họ phù hợp với pháp lý và đạo lý.

– Tính chất phản biện: Tính chất phản biện trong hoạt động của luật sư là những biện luận nhằm phản bác lại lý lẽ, ý kiến quan điểm của người khác mà mình cho là không phù hợp với pháp lý và đạo lý. Hoạt động phản biện của luật sư là lấy pháp luật và đạo đức xã hội làm chuẩn mực để xem xét mọi khía cạnh của sự việc nhằm xác định rõ phải trái, đúng sai…từ đó đề xuất những biện pháp phù hợp bảo vệ lẽ phải, loại bỏ cái sai, bảo vệ công lý.

Xuất phát từ tính chất, đặc thù của nghề luật sư, nó đòi hỏi luật sư ngoài các phẩm chất chung là Chân, Thiện, Mỹ, luật sư còn phải là người có khối óc thông minh, tấm lòng trong sáng, dũng cảm, biết lấy pháp luật và đạo đức xã hội làm cơ sở hoạt động mới xứng đáng với sự tin cậy và tôn vinh của xã hội.

1.3.Khái niệm  pháp luật về luật sư

 Luật sư và nghề luật sư luôn gắn với sự hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về luật sư nói riêng. Pháp luật về luật sư là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong tổ chức và hoạt động nghề nghiệp giữa luật sư với khách hàng, các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan có thẩm quyền khác, về việc quản lý Nhà nước và sự tự quản của tổ chức xã hội nghề nghiệp luật sư do Nhà nước đặt ra, thừa nhận và bảo đảm thi hành.

Có thể nói, pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư có một vị trí quan trọng trong nền tư pháp, cũng như đóng vai trò rất lớn trong hệ thống pháp luật nói chung. Bởi vì Luật sư là một chức danh tư pháp độc lập và hoạt động nghề nghiệp của luật sư có vai trò rất quan trọng. Tính chất quan trọng đó thể hiện hoạt động nghề nghiệp của luật sư nhằm góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chính vì thế, pháp luật về luật sư chính là sự bảo đảm về mặt nhà nước cũng như xã hội để luật sư và hoạt động nghề nghiệp của luật sư được thực hiện một các đúng mực mang lại sự hiệu quả và thực thi được sứ mệnh cao cả của nó.

Cũng như bạn đã thấy trên đây là nội dung chuyên đề thực tập hoạt động của văn phòng luật sư nhưng trên đây chỉ mới là một phần nội dung mà mình đã triển khai thôi, trong quá trình triển khai mình sẽ giới thiệu thêm cho các bạn một loạt đề tài chuyên đề thực tập công ty luật là một trong số những đề tài điểm cao, đạt chất lượng cho nên các bạn có thể xem và tham khảo thêm tại website hotrothuctap.com của mình để biết thêm thông tin chi tiết.

Báo Cáo Thực Tập Hoạt Động Của Văn Phòng Luật Sư
Báo Cáo Thực Tập Hoạt Động Của Văn Phòng Luật Sư

2. Văn phòng luật sư

2.1. Khái niệm văn phòng luật sư

Văn phòng luật sư là một trong các hình thức tổ chức hành nghề của luật sư (cùng với Công ty luật)

2.2. Quy định về tổ chức và hoạt động của văn phòng Luật sư

Theo quy định tại Điều 33 Luật Luật sư 2006 thì văn phòng luật sư được quy định cụ thể như sau:

– Văn phòng luật sư do một luật sư thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân.

Chuyên Đề Thực Tập Hoạt Động Của Văn Phòng Luật Sư luật sư thành lập văn phòng luật sư là Trưởng văn phòng và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi nghĩa vụ của văn phòng. Trưởng văn phòng là người đại diện theo pháp luật của văn phòng.

– Tên của văn phòng luật sư do luật sư lựa chọn và theo quy định của Luật doanh nghiệp nhưng phải bao gồm cụm từ “văn phòng luật sư”, không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của tổ chức hành nghề luật sư khác đã được đăng ký hoạt động, không được sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc.

– Văn phòng luật sư có con dấu, tài khoản theo quy định của pháp luật.

Căn cứ quy định mà Ban biên tập đã trích dẫn trên đây thì văn phòng luật sư do một luật sư thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân.

2.3. Quyền và nghĩa vụ của Văn phòng luật sư

Tại Pháp lệnh số 37/2001/PL-UBTVQH10 của Quốc hội đã nêu rõ về quyền và nghĩa vụ của văn phòng luật sư như sau:

* Quyền của Văn phòng luật sư

(1) Thực hiện dịch vụ pháp lý về các lĩnh vực đã được ghi trong Giấy đăng ký hoạt động.

(2) Nhận thù lao từ khách hàng.

(3) Thuê luật sư Việt Nam và nhân viên làm việc cho Văn phòng, Công ty.

(4) Thuê luật sư nước ngoài, hợp tác với tổ chức luật sư nước ngoài theo quy định của pháp luật về hành nghề của luật sư nước ngoài tại Việt Nam.

(5) Lập chi nhánh trong nước theo quy định tại Điều 24 của Pháp lệnh này.

(6) Đặt cơ sở hành nghề ở nước ngoài theo quy định của Chính phủ.

(7)Thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật

*Nghĩa vụ của Văn phòng luật sư:

Văn phòng luật sư có các nghĩa vụ sau đây:

  1. a) Hoạt động theo đúng lĩnh vực hành nghề ghi trong Giấy đăng ký hoạt động;
  2. b) Thực hiện đúng những nội dung đã giao kết với khách hàng;
  3. c) Bồi thường thiệt hại do lỗi mà luật sư của mình gây ra cho khách hàng trong khi thực hiện tư vấn pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác;
  4. d) Mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư của mình;

đ) Niêm yết mức thù lao tại trụ sở của mình;

  1. e) Chấp hành quy định của pháp luật về lao động, thuế, kế toán, thống kê;
  2. g) Nhận luật sư tập sự và cử luật sư hướng dẫn luật sư tập sự theo sự giới thiệu của Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư;
  3. h) Chấp hành các yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc báo cáo, kiểm tra, thanh tra;
  4. i) Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
  5. k) Cử luật sư tham gia tố tụng trong các vụ án do cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu, theo sự phân công của Đoàn luật sư.
Tiểu luận
Tiểu luận

Chương Ii: Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Văn Phòng Luật Sư Nguyễn Hồng Lạc Tại Phường Hiệp Thành Quận 12 Thành Phố Hồ Chí Minh 

1. Thực trạng về hoạt động tham gia tố tụng các vụ án dân của văn phòng luật sư Nguyễn Hồng Lạc

Trải qua nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn pháp luật và tranh tụng tại Tòa án. Văn phòng luật sư Nguyễn Hồng Lạc nhận tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn,bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, việc về yêu cầu dân sự, quy định của pháp luật.

  • Văn phòng luật sư Nguyễn Hồng Lạc tư vấn dân sự, tố tụng dân sự:

 + Tham gia tố tụng từ khi khởi kiện hoặc bất cứ giai đoạn nào trong quá trình tố tụng dân sự;

 + Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, tham gia phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm nếu Toà án xét thấy cần thiết ;

 + Xác minh, thu thập chứng cứ và cung cấp chứng cứ cho toà án, nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự;

 + Tham gia việc hoà giải, tham gia phiên toà hoặc có văn bản bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự;

 + Thay mặt đương sự yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;

 + Giúp đương sự về mặt pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ;

 + Tranh luận tại phiên toà;

  • Tư vấn khởi kiện:

 + Tư vấn về thời hiệu khởi kiện, tòa án có thẩm quyền khởi kiện, án phí khởi kiện…

 + Tư vấn thủ tục khởi kiện, soạn thảo đơn khởi kiện, chuẩn bị hồ sơ khởi kiện; 

 + Tư vấn thủ tục kháng cáo dân sự, tham gia tố tụng phúc thẩm các vụ án dân sự;

 + Tư vấn yêu cầu thi hành án các quyết định, bản án dân sự đã có hiệu lực pháp luật.

Tư vấn các tranh chấp dân sự

 + Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản;

 + Tranh chấp về hợp đồng dân sự;

 + Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công  nghệ;

 + Tranh chấp về thừa kế tài sản;

 + Tranh chấp chia tài sản chung;

 + Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;

 + Tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất;

 + Các tranh chấp dân sự khác mà pháp luật có quy định.

  • Tư vấn  các yêu cầu về dân sự:

 + Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự;

 + Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó;

 + Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết;

 + Yêu cầu công nhận hoặc không nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định về dân sự của Toà án nước ngoài;

 + Yêu cầu công nhân và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của toà án nước ngoài hoặc không công nhân bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành án tại Việt Nam

 + Các yêu cầu khác về dân sự mà pháp luật có quy định.

  • Tư vấn quy định pháp luật, tranh chấp liên quan đến các giao dịch dân sự như:

 + Giao dịch về cầm cố, thế chấp, đặt cọc, bảo lãnh…;

 + Giao dịch về hợp đồng: Hợp đồng mua bán, hợp đồng tặng cho, hợp đồng vay mượn tài sản, hợp đồng thuê, thuê khoán tài sản, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng vận chuyển hàng hóa, hợp đồng gia công, hợp đồng bảo hiểm; hợp đồng ủy quyền, giấy ủy quyền và các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề ủy quyền;

 + Chuyên Đề Thực Tập Hoạt Động Của Văn Phòng Luật Sư : Tư vấn quy định pháp luật liên quan đến thừa kế như: tư vấn, hỗ trợ pháp lý về thừa kế cho người để lại thừa kế, người thừa kế; soạn thảo di chúc và các văn bản khác; tư vấn, hỗ trợ pháp lý các vấn đề thừa kế khác có liên quan;

 + Tư vấn, hỗ trợ pháp lý liên quan đến các quan hệ dân sự có yêu tố nước ngoài;

 + Tư vấn quy định pháp luật và tranh chấp dân sự khác trong lĩnh vực dân sự.

2. Thực trạng về đội ngũ luật sư hoạt động hành nghề của luật sưcủa văn phòng luật sư Nguyễn Hồng Lạc

2.1. Về đội ngũ luật sư

Sau khi Pháp lệnh luật sư và đặc biệt là Luật Luật sư 2006 được ban hành, đội ngũ luật sư đã có  sự phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng. Sự phát triển, thay đổi của đội ngũ luật sư một phần do những quy định đổi mới của Luật Luật sư về các tiêu chí như tiêu chuẩn luật sư, điều kiện hành nghề luật sư, quy trình trở thành luật sư, các quy định về tập sự, gia nhập Đoàn Luật sư…

Chẳng hạn, về tiêu chuẩn và điều kiện hành nghề luật sư:

 Tiêu chuẩn luật sư : Theo Luật Luật sư, công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ đại học luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư.

–  Điều kiện hành nghề luật sư:)

Chuyên Đề Thực Tập Hoạt Động Của Văn Phòng Luật Sư kế thừa quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001, Luật Luật sư quy định người muốn được hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư. Quy định này nhằm bảo đảm tính chuyên nghiệp của nghề luật sư, phòng ngừa tình trạng những người không có đủ tiêu chuẩn, điều kiện vẫn thực hiện dịch vụ pháp lý như luật sư, góp phần bảo vệ lợi ích của cá nhân, tổ chức và xã hội, tăng cường quản lý về hành nghề luật sư. Điều kiện này cũng được pháp luật về hành nghề luật sư của nhiều nước trên thế giới quy định.

Như vậy, về tiêu chuẩn luật sư, Pháp lệnh luật sư năm 2001, Luật Luật sư đã đặc biệt chú trọng nâng cao tiêu chuẩn về chuẩn chuyên môn, về phẩm chất đạo đức đối với luật sư. Đồng thời, theo hướng “chuyên nghiệp hoá” đội ngũ luật sư, Pháp lệnh luật sư năm 2001, Luật Luật sư quy định cán bộ, công chức không được hành nghề luật sư.

Có thể nói, chính nhờ những thay đổi về mặt quy định như vậy nên trong những năm gần đây, chất lượng của đội ngũ luật sư đã được nâng lên đáng kể, về cơ bản đủ khả năng cung cấp dịch vụ pháp lý tin cậy cho khách hàng.

Tuy nhiên, vấn đề về đội ngũ luật sư của văn phòng Luất sư vẫn còn một số hạn chế sau đây:

Thứ nhất, số lượng luật sư hiện có còn rất thấp.

Thứ hai, chất lượng của đội ngũ luật sư còn nhiều hạn chế. Gần một nửa số lượng luật sư hiện nay chưa được đào tạo một cách bài bản về kỹ năng hành nghề. Hiệu quả tham gia tố tụng của luật sư vẫn còn chưa đáp ứng được yêu cầu tranh tụng tại phiên toà theo tinh thần cải cách tư pháp. Các luật sư vẫn còn thiếu kinh nghiệm trong việc thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến quá trình bào chữa, tranh luận, đưa ra yêu cầu, kiến nghị tại phiên toà. Một số luật sư còn có thái độ ứng xử nghề nghiệp chưa đúng mực trong quan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và luật sư đồng nghiệp, làm ảnh hưởng đến uy tín của đội ngũ luật sư.

Thứ ba, về mức độ chuyên môn hoá trong hành nghề, đa số luật sư ở nước ta hành nghề trong tất cả các lĩnh vực tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng và các dịch vụ pháp lý khác. Tuy số lượng luật sư ở nước ta trong những năm gần đây tăng lên đáng kể, song vẫn chưa hình thành được đội ngũ các luật sư chuyên sâu về những lĩnh vực khác nhau. Các luật sư chủ yếu hành nghề trong hai lĩnh vực dân sự và hình sự. Trong các lĩnh vực pháp luật khác như hành chính, lao động, kinh tế…tỷ lệ vụ việc mà các luật sư tham gia tương đối thấp.

2.2.Về hoạt động hành nghề của luật sư

Những quy định về hoạt động hành nghề của luật sư theo Luật Luật sư có nhiều điểm mới so với Pháp lệnh luật sư và được xây dựng trên quan điểm chỉ đạo là cụ thể hoá quyền, nghĩa vụ của luật sư trong từng lĩnh vực hành nghề, quy định rõ hơn cơ chế pháp lý bảo đảm cho luật sư thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ, đồng thời đề cao trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư trong quá trình hành nghề.

–  Về phạm vi hành nghề

Có thể thấy rằng sau khi Pháp lệnh luật sư năm 2001 và đặc biệt sau khi Luật Luật sư được ban hành, hoạt động hành nghề luật sư có những bước chuyển biến rõ rệt. Theo quy định của Pháp lệnh luật sư thì dịch vụ pháp lý của luật sư bao gồm tham gia tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật và các dịch vụ pháp lý khác. Luật Luật sư đã mở rộng hơn phạm vi hành nghề luật sư với việc quy định luật sư được đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng. Có thể nói trên cơ sở những quy định ngày càng thông thoáng hơn của pháp luật cộng với sự nỗ lực của các luật sư, dịch vụ pháp lý của luật sư tăng đáng kể về số lượng và nâng cao một bước về chất lượng.

+ Tham gia tố tụng là lĩnh vực hành nghề chủ yếu của các luật sư hiện nay. Trong thời gian qua, các luật sư đã tham gia giải quyết hàng trăm nghìn vụ án. Vai trò của luật sư trong quá trình tham gia tố tụng đã có những bước phát triển về chất.   Xuất phát từ việc pháp luật tố tụng đang từng bước được hoàn thiện, các cơ quan tiến hành tố tụng đã quan tâm hơn đến việc tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư tham gia bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị can, bị cáo, đương sự. Đặc biệt sau khi Nghị Quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị đã nêu rõ: “Khi xét xử, các toà án …việc phán quyết của toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, người bào chữa… Các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia cào quá trình tố tụng …”, thì vai trò của luật sư trong quá trình tham gia tố tụng đã được nâng lên một bước. Nhiều cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát đã tạo điểu kiện cho luật sư tham gia vào quá trình tố tụng được thuận lợi hơn. Ý kiến của luật sư tại phiên toà đã được cơ quan công tố quan tâm và coi trọng. Việc tham gia tố tụng của các luật sư không những bảo đảm tốt hơn quyền bào chữa của bị can, bị cáo, các đương sự khác, mà còn giúp các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, sửa chữa những thiếu sót, làm rõ sự thật khách quan, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. 

+ Chuyên Đề Thực Tập Hoạt Động Của Văn Phòng Luật Sư tư  vấn pháp luật là lĩnh vực hành nghề quan trọng của luật sư, đặc biệt trong điều kiện nhu cầu về tư vấn pháp luật trong xã hội ngày càng tăng nhanh. Các luật sư đã mở rộng và phát triển tư vấn trong các lĩnh vực kinh tế, đầu tư, thương mại. Trong lĩnh vực tư vấn về pháp luật dân sự thì tư vấn về đất đai, hôn nhân gia đình đang là mảng tư vấn phổ biến và sôi động nhất.

Chuyên Đề Thực Tập Hoạt Động Của Văn Phòng Luật Sư trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, toàn cầu hoá, các luật sư hoạt động trong lĩnh vực tư vấn pháp luật đang phát huy vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ các doanh nghiệp đàm phán, ký kết hợp đồng, giải quyết các tranh chấp phát sinh đặc biệt trong các lĩnh vực mới mẻ như đầu tư nước ngoài, sở hữu trí tuệ, quan hệ thương mại hàng hoá có yếu tố nước ngoài…

Ngoài ra, các luật sư cũng đã tham gia tích cực vào hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đối tượng thuộc diện chính sách. Việc tham gia vào hoạt động này không chỉ thực hiện một cam kết mang tính chất nghĩa vụ của luật sư đối với xã hội mà còn góp phần tạo lập sự công bằng cho các đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý. Trong thời gian qua, các luật sư đã tham gia trợ giúp pháp lý cho hàng chục nghìn vụ việc, góp phần đáng kể trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người thuộc diện chính sách.

Có thể nói, mặc dù còn những hạn chế, nhưng hoạt động của luật sư thời gian qua đã đáp ứng một phần quan trọng nhu cầu giúp đỡ pháp lý của công dân và tổ chức, đóng góp đáng kể trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và các đương sự khác, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

–  Về hình thức hành nghề của luật sư

Theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001, luật sư chỉ được hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư (thành lập hoặc tham gia thành lập Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh hoặc làm việc theo hợp đồng cho tổ chức hành nghề luật sư, kể cả tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam). Quy định này về cơ bản là phù hợp với thông lệ nghề luật sư và có tính khả thi trong giai đoạn đầu hình thành và phát triển của nghề luật sư. Tuy nhiên, với yêu cầu mở rộng, phát triển dịch vụ pháp lý của luật sư trong điều kiện phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra sâu sắc và mạnh mẽ hiện nay, thì quy định về hình thức hành nghề như Pháp lệnh luật sư đã tỏ ra không còn phù hợp. Và do đó, Luật Luật sư mở rộng hình thức hành nghề của luật sư, theo đó luật sư không chỉ hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư như quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001, mà còn được phép hành nghề với tư cách cá nhân dưới hình thức tự mình nhận và thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng theo hợp đồng dịch vụ pháp lý, hoặc làm việc cho cơ quan, tổ chức theo hợp đồng lao động. Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động hành nghề và hoạt động theo mô hình hộ kinh doanh cá thể.

– Về hình thức tổ chức hành nghề luật sư

Theo quy định của Luật Luật sư thì tổ chức hành nghề luật sư bao gồm:

+ Văn phòng luật sư là tổ chức hành nghề luật sư do một luật sư  thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân;

3. Những Thuận lợi và khó khăn trong thực tiễn hoạt động của văn phòng luật sư Nguyễn Hồng Lạc

3.1. Thuận lợi

  + Có khả năng quản lý toàn diện do nhiều người tham gia điều hành công việc, các thành viên vốn có trình độ kiến thức khác nhau, họ có thể bổ sung cho nhau về các kỹ năng quản trị.

+ Tính chất ổn định, lâu bền, sự thừa nhận hợp pháp,

+ Chuyên Đề Thực Tập Hoạt Động Của Văn Phòng Luật Sư vai trò của luật sư trong quá trình tham gia tố tụng đã có những bước phát triển về chất. Việc tham gia tố tụng của các luật sư không những bảo đảm tốt hơn quyền bào chữa của bị can, bị cáo, các đương sự khác, mà còn giúp các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, sửa chữa những thiếu sót, làm rõ sự thật khách quan, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật tránh làm oan sai, quyền cơ bản của con người bị xâm phạm.

+ Tư vấn pháp luật là lĩnh vực hành nghề quan trọng của luật sư trong thời kỳ hội nhập quốc tế, giúp đỡ các doanh nghiệp đàm phán, ký kết hợp đồng, giải quyết các tranh chấp phát sinh đặc biệt trong các lĩnh vực quan trọng như đầu tư nước ngoài, sở hữu trí tuệ, quan hệ thương mại hàng hoá có yếu tố nước ngoài, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế của đất nước.

3.2. Khó khăn

+Chưa đáp ứng được mục tiêu đặt ra là phát triển đội ngũ luật sư vừa tăng về số lượng nhưng phải đảm bảo về chất lượng nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và cải cách tư pháp của nước ta

+ Chất lượng của đội ngũ luật sư của Văn phòng còn nhiều hạn chế. Gần một nửa số luật sư hiện nay chưa được đào tạo một cách bài bản về kỹ năng hành nghề. Hiệu quả tham gia tố tụng của luật sư vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu tranh tụng tại phiên toà theo tinh thần cải cách tư pháp. Các luật sư vẫn còn thiếu kinh nghiệm trong việc thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến quá trình bào chữa, tranh luận, đưa ra yêu cầu, kiến nghị tại phiên toà. Một số luật sư còn có thái độ ứng xử nghề nghiệp chưa đúng mực trong quan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và luật sư đồng nghiệp, làm ảnh hưởng đến uy tín của Văn phòng

+ Khó khăn trong việc kiếm soát: mỗi thành viên đều phải chịu trách nhiệm đối với quyết định của bất cứ thành viên nào trong văn phòng, tất cả hoạt động dưới danh nghĩa của văn phòng  đều có sự ràng buộc với các thành viên khác mặc dù họ không biết trước.

+Thiếu bền vững và ổn định, chỉ cần một thành viên gặp rủi ro hay có suy nghĩ không phù hợp là văn phòng không thể không tổn tại và tất cả hoạt động hành nghề dễ đình chỉ.

4. Một số giải pháp nâng cao thực tiễn hoạt động của văn phòng luật sư Nguyễn Hồng Lạc

Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về mặt nội dung và tố tụng liên quan đến hoạt động nghề nghiệp của luật sư:

+ Xây dựng điều khoản mới về tội danh xâm phạm quyền bào chữa và nhờ người khác bào chữa của công dân trong Bộ luật hình sự; sửa đổi và bổ sung một số quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự về tư cách tham gia tố tụng của luật sư, thời điểm tham gia bào chữa, việc tiếp xúc bị can, bị cáo trong trại tạm giam, quyền điều tra và thu thập chứng cứ, cũng như một số hoạt động nghề nghiệp khác của luật sư; hoàn thiện quy định để từng bước mở rộng tranh tụng tại phiên tòa…

+ Liên quan hoạt động tư vấn pháp luật và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác, pháp luật về luật sư cần tập trung vào hai phạm vi là nhất thể hóa hoạt động tư vấn pháp luật vào đối tượng hành nghề chuyên nghiệp là đội ngũ luật sư và thể chế hóa phương hướng tăng cường hợp tác quốc tế trong hoạt động luật sư, xây dựng cơ chế pháp lý cho việc tham gia ngày càng nhiều hơn của luật sư trong đàm phán thương mại quốc tế, giải quyết các tranh chấp có yếu tố nước ngoài, tạo môi trường cạnh tranh dịch vụ pháp lý lành mạnh trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc bình đẳng và chủ quyền.

+Chuyên Đề Thực Tập Hoạt Động Của Văn Phòng Luật Sư : Ban hành bộ quy tắc thống nhất về đạo đức nghề nghiệp luật sư và quy chế trách nhiệm nghề nghiệp luật sư.

Hiện nay, đa số luật sư Việt Nam tuân thủ các quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư và các quy định của pháp luật liên quan đến tổ chức và hành nghề luật sư. Tuy nhiên,Các quy tắc đó chưa được áp dụng một cách thống nhất, mỗi Đoàn luật sư có một quy tắc đạo đức nghề nghiệp riêng dựa trên bộ quy tắc mẫu, hơn nữa việc tuân thủ quy tắc đạo đức nghề nghiệp và kỷ luật hành nghề luật sư vẫn chưa được nhận thức một cách đầy đủ, chưa trở thành ý thức tự giác đối với mỗi cá nhân luật sư trong hành nghề và trong cuộc sống. Trên thực tế, vẫn còn một số luật sư quá coi trọng lợi ích vật chất dẫn đến vi phạm các quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư, thậm chí có luật sư vi phạm pháp luật nghiêm trọng đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Do vậy, cần thiết ban hành sớm bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư áp dụng thống nhất trên toàn quốc cùng với những biện pháp bảo đảm tuân thủ đúng đắn.

+Chuyên Đề Thực Tập Hoạt Động Của Văn Phòng Luật Sư ban hành các quy định điều chỉnh và giám sát nhằm tiến nội dung, phương pháp để nâng cao chất lương đào tạo nghề luật sư, nâng cao chất lượng tập sự hành nghề luật sư thông qua việc các Đoàn luật sư thực hiện nghiêm túc cơ chế giám sát người tập sự hành nghề luật sư, luật sư hướng dẫn, tổ chức hành nghề luật sư trong việc tuân theo Quy chế tập sự hành nghề luật sư; tạo điều kiện thuận lợi để người tập sự được nghiên cứu, tiếp cận những kiến thức pháp luật mới, đồng thời tạo cơ hội cho người tập sự được trực tiếp tham gia hoạt động nghề nghiệp, nâng cao kỹ năng hành nghề luật sư.

+ Từng bước hoàn thiện các quy định pháp lý về chế độ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp luật sư

Hành nghề luật sư là hoạt động đòi hỏi tính trách nhiệm cao, gây thiệt hại là phải bồi thường do vậy luật sư tham gia bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp là một nghĩa vụ cần thiết. Tuy nhiên, vấn đề trách nhiệm nghề nghiệp cũng như bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp luật sư ở Việt Nam chỉ mới dừng lại trên giấy mà chưa được thực thi. Do đó, cần có những quy định và những biện pháp  cụ thể để sớm áp dụng trong thực tiễn hoạt động nghề nghiệp của luật sư nhằm đem lại sự hiệu quả cao nhất cho hoạt động đặc thù này.

Thứ hai, xây dựng cơ chế bảo đảm và quản lý thực thi quá trình hoàn thiện pháp luật về luật sư

Xây dựng các mô hình tổ chức hành nghề và mô hình quản lý đủ sức đáp ứng nhu cầu dịch vụ pháp lý của công dân, tổ chức; phấn đấu xây dựng đội luật sư đạt cả về số lượng lẫn chất lượng.

Gắn việc hoàn thiện pháp luật về luật sư với chiến lược cải cách tư pháp hiện nay.

Nâng cao tính đồng bộ trong quá trình hoàn thiện pháp luật về luật sư.

Cảm ơn các bạn đã theo dõi chuyên đề Chuyên Đề Thực Tập Hoạt Động Của Văn Phòng Luật Sư ngoài chia sẻ được đọc các bạn cũng có thể tải flie về. Các bài viết của chúng tôi đều có nguồn đó là trích dẫn cụ thể, đa số là nội dung được chúng tôi tự biên soạn, phần còn lại được chúng tôi tham khảo từ các bạn sinh viên khoá trước. Hy vọng với nội dung báo cáo thực tập về hoạt động của văn phòng luật sư sẽ giúp cho bạn có thêm thật nhiều kinh nghiệm hữu ích. Tuy nhiên, nếu như nguồn tài liệu mình đã triển khai trên đây chưa đủ để làm bạn hài lòng thì hãy tìm đến dịch vụ làm thuê báo cáo thực tập qua zalo/telegram : 0934.573.149 để được chúng tôi tư vấn báo giá làm bài báo cáo trọn gói nhé.

DOWNLOAD MIỄN PHÍ