TOP 12 Cơ sở lý luận trong bài báo cáo ngành Luật

TOP 12 Cơ sở lý luận trong bài báo cáo ngành Luật. Bài viết này sẽ giúp các bạn sinh viên đang làm đề tài báo cáo thực tập về ngành Luật, Cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý để hoàn thiện bài của mình nhé. Các bạn có thể tải về dưới bài viết này nhé

Trong quá trình làm báo cáo thực tập nếu các gặp khó khăn trong quá trình làm bài như chọn đề tài, công ty, làm bài hoàn chỉnh, có thể liên hệ với dịch vụ viết thuê báo cáo thực tập của Admin qua https://zalo.me/0917193864 nhé

Cơ sở lý luận trong bài báo cáo ngành Luật Dân sự

  • Cơ sở pháp lý
  • – Thời hiệu khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại được xác định theo quy định tại khoản 3 Điều 623 BLDS 2015: “Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.”
  • – Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác được xác định theo khoản 2 Điều 623 BLDS 2015: “Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.”
  • – Thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế được xác định theo khoản 1 Điều 623 BLDS 2015 như sau: “Thời hiệu để người thừa kế chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế”. Cũng tại khoản này, BLDS 2015 đã quy định rõ hướng giải quyết một cách triệt để di sản thừa kế trong trường hợp hết thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản: “Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
  • a. Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.
  • b. Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.”
  • Một số khái niệm
  • Thời hiệu
  • Theo quy định tại BLDS 2015 thì: “Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định.” Trong đó, thời hạn được hiểu là một khoảng thời gian xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác và được xác định bằng phút, giờ, ngày, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện pháp lý xảy ra (Khoản 1 Điều 149).
  • Ngoài những khái niệm được quy định trong các văn bản pháp luật, thời hiệu còn được diễn giải theo nhiều cách khác nhau bởi một số nhà nghiên cứu luật học mà theo tác giả không có sự khác biệt lớn về nội hàm của những khái niệm này. Tiêu biểu là khái niệm về thời hiệu của PGS.TS. Đỗ Văn Đại: “Thời hiệu là một cách thức, biện pháp làm chủ thể có được hoặc bị mất đi quyền của mình, thông qua một khoảng thời gian nhất định với những điều kiện do pháp luật quy định.”
  • Thời hiệu khởi kiện
  • Theo quy định tại Điều 150 BLDS 2015:“Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện”. Luật tố tụng hành chính 2015 cũng có khái niệm tương tự, theo đó: “Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà cơ quan, tổ chức, cá nhân được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện”.
    Trong dân sự, lợi ích của các bên là ngọn ngành dẫn đến việc tranh chấp. Tranh chấp pháp lý sẽ không thể xảy ra nếu không có hành vi khởi kiện của các bên. Khởi kiện là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ tố tụng dân sự. Quyền khởi kiện của chủ thể sẽ mất đi khi hết thời hiệu mà pháp luật quy định và lúc này chủ thể không thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.
  • Thời hiệu khởi kiện thừa kế
  • Hiện tại, pháp luật chỉ quy định về thời hiệu nói chung và thời hiệu khởi kiện trong quan hệ dân sự, chưa có khái niệm cụ thể về thời hiệu khởi kiện thừa kế. Có thể hiểu thời hiệu khởi kiện về thừa kế là thời hạn mà chủ thể được hưởng quyền khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp thừa kế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.
  • Thời điểm mở thừa kế
  • Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trong trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được Tòa án xác định là ngày chết của người đó (Khoản 1 Điều 611 BLDS 2015).
  • Quyền thừa kế
  • Về mặt pháp lý, quyền thừa kế là quyền của chủ thể lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật hoặc quyền được hưởng di sản do người khác để lại (Điều 609 BLDS 2015).
  •  Người quản lý di sản
  • Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc được những người thừa kế thỏa thuận lựa chọn để quản lý di sản của người chết để lại. Trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản. Trong đó, người đang chiếm hữu được hiểu là người đang nắm giữ, chi phối một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản (Điều 616 BLDS 2015)

TẢI FILE MIỄN PHÍ

Trên đây là một cơ sở lý luận, có sở pháp lý về bài báo cáo trong Luật dân sự, các bạn sinh viên nào đang tìm kiếm cơ sở lý luận về hoàn thiện bài báo cáo của mình, đọc tiếp bài viết dưới đây nhé.

Cơ sở lý luận về hợp đồng dân sự trong bài báo cáo ngành Luật Dân sự

Khái niệm về hợp đồng dân sự và thực hiện hợp đồng dân sự

  • Hợp đồng là một khái niệm có nguồn gốc lâu đời và là một trong những chế định quan trọng của pháp luật Dân sự.
  • Hợp đồng dân sự là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân sự, là phương tiện pháp lý quan trọng để thỏa mãn quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội.
  • Hợp đồng dân sự được xác lập sẽ hình thành mối quan hệ pháp lý giữa các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng, mối liên hệ pháp lý này được đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế của Nhà nước. Do đó, có thể nói rằng sau khi hợp đồng được thiết lập, sự ràng buộc pháp lý về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được thể hiện rõ nét, theo đó bên nào vi phạm cam kết, thỏa thuận phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi về hành vi vi phạm của mình.
  • Bộ luật Dân sự năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định khái niệm hợp đồng như sau: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
  • Tuy nhiên, quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng bao gồm cả những quan hệ về đầu tư, lao động, kinh doanh thương mại, bảo hiểm…. Theo đó, nếu trong khái niệm về hợp đồng từ “dân sự” được đặt đằng sau hai từ “hợp đồng” và sau hai từ nghĩa vụ thì điều này dẫn đến thực tiễn thi hành pháp luật có cách hiểu rằng những quy định của Bộ luật Dân sự hiện hành chỉ liên quan đến hợp đồng dân sự. Như vậy, sẽ làm hạn chế phạm vi điều chỉnh của BLDS đối với tất cả các loại hợp đồng, bao gồm cả hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động, hợp đồng kinh doanh hay hợp đồng thương mại.
  • Do đó, mà tại BLDS 2015 này các nhà làm luật đã có những chỉnh sửa liên quan đến khái niệm “hợp đồng” để khắc phục bất cập trên.
  • Cụ thể, BLDS năm 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”.
  • So với BLDS hiện hành thì BLDS năm 2015 đã bỏ cụm từ “dân sự” sau hai từ “hợp đồng”. Quy định mới về khái niệm hợp đồng tại Điều 385 của BLDS năm 2015 là điểm mới quan trọng, đáng chú ý không những về mặt kỹ thuật lập pháp và còn làm tăng tính khả thi, minh bạch trong thực tiễn áp dụng.

Khái niệm đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự

  • Theo Từ điển Bách khoa toàn thư thì “đơn phương” là “sự thể hiện ý chí của riêng một bên, không có sự thỏa thuận hoặc sự tham gia của bên kia; phân biệt với đa phương hoặc song phương” . Căn cứ vào định nghĩa về từ “đơn phương” tại Từ điển trên, ĐPCDHĐDS trước hết là việc chấm dứt HĐDS theo ý chí của “riêng một bên”. Việc chấm dứt HĐDS do một bên mong muốn, yêu cầu diễn ra “nửa chừng” khi HĐDS đã giao kết, đang trong quá trình thực hiện, chưa thực hiện xong nghĩa vụ hợp đồng và chưa hết thời hạn hợp đồng. Ý chí chấm dứt hợp đồng “nửa chừng” của một bên nào đó phải “đúng”, tức là bên đó có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng.
  • Một trong hai cơ sở của quyền này là sự thỏa thuận từ trước (khi giao kết) xuất phát từ sự tự do ý chí của các bên tham gia hợp đồng. Ngoài sự thỏa thuận, quyền ĐPCDHĐ còn có được trên cơ sở quy định của pháp luật. Quyền ĐPCDHĐDS xuất phát từ quyền lợi hợp pháp của một trong các bên (cụ thể là bên có quyền này) không được đảm bảo. Qua sự phân tích như trên, em đưa ra khái niệm ĐPCDHĐDS như sau: ĐPCDHĐDS là sự thể hiện ý chí chấm dứt HĐDS của một bên chủ thể trên cơ sở sự thỏa thuận hoặc quy định của pháp luật do quyền và lợi ích hợp pháp của họ không được thực hiện hoặc không được đảm bảo thực hiện.

TẢI FILE MIỄN PHÍ

Cơ sở lý luận trong bài báo cáo ngành Luật Đất đai

Tranh chấp đất đai

  • Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử với những chính sách pháp luật đất đai khác nhau, cho dù đất đai là tài sản thuộc sở hữu tư nhân, hay chỉ được giao quyền sử dụng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân…thì ở nước ta, hiện tượng tranh chấp đất đai vẫn xảy ra phổ biến, diễn biến phức tạp, ảnh hưởng xấu đến công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung và việc sử dụng đất nói riêng, gây ra nhiều bất ổn nhất định đối với đời sống kinh tế – xã hội. Nhà nước phải ban hành nhiều quy định pháp luật để giải quyết vấn đề trên. Vậy tranh chấp đất đai là gì? Khái niệm này tưởng chừng đơn giản nhưng nhưng lại có nhiều ý nghĩa trong việc phân định thẩm quyền, xác định nội dung cần giải quyết đối với các tranh chấp đất đai.
  • Khái niệm “Tranh chấp đất đai” được nêu ra tại Khoản 24 Điều 3 Luật đất đai năm 2015 như sau:  “tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Hay nói cách khác, tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa các đương sự trong qúa trình quản lý và sử dụng đất đai. Như vậy, tranh chấp đất đai chính là các mâu thuẫn, bất đồng ý kiến của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai khi họ cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm.
  • Có thể thấy khái niệm tranh chấp đất đai được nêu trong luật đất đai là một khái niệm bao hàm cả tranh chấp về quyền sử dụng đất, tranh chấp về tài sản gắn liền với đất, tranh chấp về địa giới hành chính. Đất đang có tranh chấp được hiểu là loại đất mà giữa người sử dụng hợp pháp đất đó với cá nhân khác, với nhà nước (về vấn đề bồi thường đất) hoặc giữa những người sử dụng chung mảnh đất đó với nhau đang có tranh chấp về quyền sử dụng đất, về tài sản gắn liền với đất, về ranh giới, mục đích sử dụng đất hoặc về quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất,…Đất đang có tranh chấp cũng có thể hiểu là đất tranh chấp giữa hai cá nhân chưa xác định được ai là người sử dụng đất hợp pháp.

Giải quyết tranh chấp đất đai

  • Giải quyết tranh chấp đất đai là hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn của hai hay nhiều bên trong quan hệ đất đai trên cơ sở pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp. Qua việc giải quyết tranh chấp đất đai mà các quan hệ đất đai được điều chỉnh phù hợp với lợi ích của Nhà nước, lợi ích xã hội và của người sử dụng đất, mang lại sự ổn định trong nội bộ nhân dân, làm cho những quy định của pháp luật đất đai được thực hiện trong cuộc sống.
  • Như vậy, có thể hiểu rằng giải quyết tranh chấp đất đai là dùng những cách thức phù hợp trên cơ sở pháp luật nhằm giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, phục hồi các quyền và lợi ích hợp pháp cho bên bị xâm hại, đồng thời buộc bên vi phạm phải gánh chịu hậu quả pháp lý do hành vi của họ gây ra, góp phần tăng cường pháp chế trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai. Hay nói cách khác, giải quyết tranh chấp đất đai là việc vận dụng đúng đắn các quy định của pháp luật vào giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Việc giải quyết các tranh chấp đất đai là một trong những biện pháp quan trọng để pháp luật đất đai phát huy được vai trò trong đời sống xã hội.

TẢI FILE MIỄN PHÍ

Cơ sở lý luận trong bài báo cáo ngành Luật lao động

Khái niệm về hợp đồng lao động

  • Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Như vậy ba nhân tố cấu thành HĐLĐ, đó là sự cung ứng công việc sự trả công và sự phụ thuộc pháp lý. Trong đó nhân tố đặc trưng nhất là sự phụ thuộc pháp lý của người làm công với người sử dụng lao động. Phải thấy rằng sự phụ thuộc pháp lý gắn với sự phụ thuộc kinh tế, nhưng ngược lại sự phụ thuộc kinh tế không nhất thiết gắn với sự phụ thuộc pháp lý.
  • HĐLĐ là cơ sở pháp lý cho quan hệ lao động mà ở đó người lao động phải thực hiện các nghĩa vụ lao động còn người sử dụng lao động phải đảm bảo điều kiện sử dụng lao động. Mặt khác, HĐLĐ là bằng chứng về mối quan hệ đặc biệt – quan hệ mua bán sức lao động
  • Ngoài ra, HĐLĐ có đặc điểm là sự bình đẳng của cả hai bên trong quan hệ hợp đồng, được thể hiện bằng một hợp đồng. Sự thoả thuận dược ghi nhận dưới một trong hai hình thức : bằng văn bản hoặc bằng miệng. Nội dung của sự thoả thuận là quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động .
  • HĐLĐ có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế – xã hội. Trước hết nó là cơ sở để các doanh nghiệp cơ quan, tổ chức, cá nhân tuyển chọn lao động phù hợp với yêu cầu của mình. Mặt khác Hợp đồng lao động là một trong những hình thức pháp lý chủ yếu nhất để công dân thực hiện quyền tự do làm việc, tự nguyện lựa chọn việc làm cũng như nơi làm việc.

    Ý nghĩa pháp lý

  • Hợp đồng lao động là cơ sở pháp lý phát sinh quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường các quan hệ pháp luật lao động cụ thể được diễn ra trong một khỏang thời gian nhất định dược ấn định trước thông qua sự thoả thuận giữa hai bên .
  • Hợp đồng lao động là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp lao động .
  • Hợp đồng lao động là công cụ pháp lý hữu hiệu để nhà nước quản lý lao động.
  • Các chủ thể HĐLĐ chịu sự tác động của các quy phạm pháp luật lao động hiện hành và chịu sự tác động của các quy phạm có tính nội bộ trong mỗi doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức.
  • Tuy nhiên, xét trên phương diện lý luận và thực tiễn, hợp đồng lao động còn có hình thức là hành vi cụ thể của các bên.
  • Mặt dù Bộ luật không quy định rõ hình thức hợp đồng hành vi nhưng trong thực tiễn đã và đang tồn tại loại hợp đồng này. Mặt khác, theo quy định của Bộ luật Dân sự hiện hành, các hợp đồng dân sự gồm ba loại: văn bản, lời nói và hành vi cụ thể. Loại hợp đồng hành vi cụ thể thường xuất hiện khi hai bên không giao kết hợp đồng nhưng bằng các hành vi cụ thể tham gia thực hiện quan hệ lao động (người lao động tự nguyện làm việc, người sử dụng lao động tự nguyện trả lương…).

 

TẢI FILE MIỄN PHÍ

Trên đây là TOP 12 Cơ sở lý luận trong bài báo cáo ngành Luật cho các bạn sinh viên học ngành Luật tham khảo. Hiện nay hotrothuctap.com có nhận viết báo cáo thực tập, xin dấu doanh nghiệp và làm trọn gói, nếu các bạn sinh viên có nhu cầu thì inbox với mình qua https://zalo.me/0917193864 để được tư vấn và hỗ trợ nhé

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *