Đề tài: Cơ Sở Lý Luận Về Thông Tin Người Nộp Thuế Trong Pháp Luật Quản Lý Thuế Tại Chi Cục Thuế

Cách làm đề tài chuyên đề thực tập: Cơ Sở Lý Luận Về Thông Tin Người Nộp Thuế Trong Pháp Luật Quản Lý Thuế Tại Chi Cục Thuế

1.1. Các khái niệm

  • 1.1.1. Khái niệm người nộp thuế

Người nộp thuế (NNT) với tư cách là một bên chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật thuế có nghĩa vụ đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế theo quy định của pháp luật. Đây là nghĩa vụ gắn liền với đối tượng nộp thuế khi thực hiện các hành vi chịu thuế. NNT là tất cả các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện phải nộp một loại thuế nhất điṇ h. Pháp luật Việt Nam không quy định cụ thể khái niệm NNT mà sử dụng phương pháp liệt kê. Trong đó, NNT được đề cập đến tại các quy định sau:

Điều 2 Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 (được sửa đổi bổ sung tại Luật số 32/2013/QH13); Điều 2 Nghị định số 218/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế TNDN; Điều 4 Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 (được sửa đổi bổ sung tại Luật số 31/2013/QH13); Điều 2 Nghị định số 209/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế GTGT; Điều 4 Luật thuế TTĐB số 27/2008/QH12; Điều 2 Luâṭ ThuếTNCN số 04/2007/QH12 (được sửa đổi bổ sung tại Luật số 26/2012/QH13; Điều 2 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNCN và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN.

Ngoài ra, NNT còn được liệt kê tại Điều 2 Nghị định số 83/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật QLT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật QLT, theo đó NNT có thể chia thành ba nhóm:

Nhóm thứ nhất: Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác thuộc NSNN do cơ quan quản lý thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật.

Nhóm thứ hai: Tổ chức được giao nhiệm vụ thu phí, lệ phí thuộc NSNN.

Nhóm thứ ba: Tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế; tổ chức, cá nhân làm thủ tục về thuế thay NNT. Bao gồm: (1) Tổ chức, cá nhân là bên Việt Nam ký hợp đồng với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo quy định của pháp luật về đầu tư và không thực hiện chế độ kế toán Việt Nam; (2) Tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế khi chi trả thu nhập cho người có thu nhập thuộc diện nộp thuế TNCN; (3) Tổ chức làm đại lý tàu biển, đại lý cho các hãng vận tải nước ngoài có trách nhiệm khấu trừ thuế TNDN đối với hoạt động kinh doanh vận chuyển hàng hóa bằng tàu biển từ các cảng biển Việt Nam ra nước ngoài hoặc giữa các cảng biển Việt Nam; (4) Tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế; (5) Đại lý làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; (6) Tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ bưu chính, dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế trong trường hợp nộp thay thuế cho tổ chức, cá nhân nộp thuế; (7) Tổ chức tín dụng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng trong trường hợp bảo lãnh nộp thuế cho tổ chức, cá nhân nộp thuế

  • 1.1.2. Thông tin người nộp thuế

Thông tin người nộp thuế là những thông tin cụ thể của cá nhân người nộp thuế, hoặc doanh nghiệp giúp cho cá nhân NNT biết chắc chắn rằng mình đã có mã số thuế được đăng ký đầy đủ để có thể nộp các loại thuế cần thiết theo đúng quy định luật pháp Việt Nam.

Việc nắm rõ được thông tin về  người nộp thuế doanh nghiệp hay của đối tác cá nhân giúp hiểu rõ đối tác trước cuộc đàm phán và tránh rủi ro, đảm bảo an toàn trong kinh doanh. Việc tra cứu thông tin người nộp thuế doanh nghiệp với các thông tin như mã số thuế sẽ giúp ích rất nhiều trong các mối quan hệ làm ăn, kinh doanh.

 1.2. Vị trí pháp lý của người nộp thuế trong pháp luật quản lý thuế

  • Cùng với Nhà nước, NNT là một chủ thể tham gia và đóng vai trò chủ đạo trong quan hệ pháp luật thuế. Đây là chủ thể có mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết và trực tiếp sáng tạo, quản lý các lợi ích vật chất được hình thành trong xã hội. Cũng như các chủ thể tham gia vào quan hê ̣pháp luâṭ khác, để trở thành NNT trong quan hê ̣pháp luâṭ thuế đòi hỏi các tổ chức, cá nhân phải hội tụ đủ năng lực chủ thể, năng lưc̣ hành vi
  • Với tư cách là một chủ thể trong quan hệ pháp luật thuế, NNT có đầy đủ quyền và nghĩa vụ khi tham gia quan hệ pháp luật thuế, các quyền và nghĩa vụ này cũng chính là một phần nội dung của quan hệ pháp luật thuế. Có hai cách đánh giá khác nhau về vị trí pháp lý của NNT phụ thuộc vào viêc̣ xác điṇ h bản chất pháp lý của quan hê ̣pháp luâṭ thuế.
  • Thứ nhất, Theo quan niêṃ truyền thống lâu nay , quan hệ pháp luật thuế là quan hệ pháp luật hành chính được thiết lập giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cá nhân, tổ chức khác trong xã hội được điều chỉnh bởi hệ thống văn bản pháp luật thuế và được điều chỉnh bởi phương pháp mệnh lệnh quyền uy. Dưới góc độ vật chất, quan hệ pháp luật thuế được thiết lập để tạo lập nguồn thu cho ngân sách nhà nước (NSNN). Tiền đề thiết lập quan hệ pháp luật thuế là do sự hình thành chính thể nhà nước để quản lý điều hành các hoạt động trong xã hội. Bộ phận chức năng ấy cần có nguồn vật chất hoạt động, nên thuế hình thành. Do vậy, trong quan hệ pháp luật thuế, các chủ thể tham gia với tư cách là ngườ i nôp̣ thuế (NNT) buộc phải chuyển giao một phần lợi ích của mình cho NSNN. Vớ i quan niêṃ này, quan hê ̣pháp luật thuế là quan hệ bất bình đằng , trong đó môṭ bên là cơ quan nhà nước – với tư cách là người có quyền uy , đươc̣ sử dụng quyền lực nhà nước để đòi hỏi các tổ chức , cá nhân phải có nghĩa vụ phục tùng quyền lưc̣ của mình , bằng cách tuân thủ nghĩa vụ nộp thuế theo luật định .
  • Còn NNT, với tư cách là người có nghĩa vụ phục tùng, sẽ hoàn toàn không có cơ hội để tự vê ̣nếu các chủ thể quyền uy có hành vi lạm quyền và gây ra các thiệt hại cho mình. Với cách đánh giá này , NNT ở vào một vị thế yếu trong quan hệ pháp luật thuế, dù rằng trên thực tế thì công sức và đóng góp của họ cho Nhà nước là không hề nhỏ chút nào. Cách nhìn nhận này cũng có nguy cơ “tước đi” của NNT những cơ hôị cần thiết để ho ̣có thể công khai bày tỏ nguyện vọng của mình khi đóng thuế cho nhà nước, cũng như có cơ hôị được tự vê ̣mỗi khi quyền lợi hợp pháp và chính đáng của họ bị cơ quan quản lý thuế xâm haị.  Điều này hoàn toàn không có lợi cho Nhà nước bởi khi đó, người dân sẽ“quay lưng” lại với chính sách thuế và có đôṇ g thá i không phuc̣ tùng chính sách thuếmà ho ̣ cho là bất hợp lý .
  • Thứ hai, Theo quan điểm của Mác, quyền của con người là sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ. Do vậy, trong quan hệ pháp luật thuế, NNT cũng phải có một số quyền nhất định. Vì lẽ đó , trong bối cảnh xã hội đương đại , cần đổi mới quan niêṃ về thuế và quan hê ̣pháp luâṭ thuế, theo hướng cho rằng quan hê ̣pháp luâṭ thuế không hoàn toàn là quan hê ̣hành chính mà thưc̣ chất nó có tính chất của môṭ quan hê ̣trao đổi sòng phẳng giữa hai bên (Nhà nước và tổ chức cá nhân là NNT). Điều này đồng nghiã với việc thay đổi vai trò của Nhà nước trong quan hê ̣ pháp luật thuế, theo hướng chuyển tƣ̀ mô hình “cơ quan cai trị” sang mô hình “cơ quan phuc̣ vụ” . Với quan niêṃ này, chúng ta đã đề cao vị thế của NNT trong quan hê ̣pháp luật thuế và đảm bảo cho NNT có khả năng tự vệ trước nguy cơ bị thiệt hại do hành vi trái pháp luâṭ của cơ quan quản lý thuế hoặc công chức quản lý thuế gây ra. Khi đó,  Nhà nước và NNT sẽ ở vào vị trí bình đẳng hơn , nghĩa là Nhà nước có ít quyền hơn và NNT có nhiều quyền hơn so với cách hiểu truyền thống về quan hệ pháp luật thuế. Có thể thấy rằng, trong bối cảnh hiêṇ nay, việc nhìn nhận  quan hê ̣pháp luâṭ thuế như thế nào và xác định bản chất của nó ra sao là vấn đề có tính then chốt, ảnh hưởng quyết điṇh đến viêc̣ xác định vị trí pháp lý của NNT cũng như viêc̣ ghi nhâṇ các quyền và nghĩa vụ pháp lý cho NNT trong quan hê ̣pháp luâṭ thuế . Nếu xác điṇh không đúng thì sẽ dẫn đến hê ̣quả làm “méo mó” bản chất đích thưc̣ của quan hê ̣pháp luật thuế và làm cho chính sách thuế của Nhà nước trở thành gánh nặng đối với người dân.

1.3. Vai trò của người nộp thuế trong pháp luật quản lý thuế

  • Hiện nay các khoản thu về thuế là nguồn tài chính quan trọng để thực hiện các mục tiêu, chính sách, và các định hướng của Nhà nước. Thuế được coi là nguồn tài chính chủ yếu để cân đối cho hoạt động chi thường xuyên. Theo Luật NSNN 2002, khoản chi thường xuyên của Ngân sách Trung ương và Ngân sách địa phương được cân đối bởi các khoản thu từ thuế, phí và lệ phí; loại trừ những địa phương không đủ khả năng cân đối thu chi thường xuyên. Điều này thể hiện sự lệ thuộc của chính quyền trung ương và chính quyền địa phương vào các khoản thu về thuế. Bộ máy nhà nước hoạt động nhằm hướng tới đối tượng phục vụ là các thực thể trong xã hội trong đó có DN.
  • Các cơ quan quản lý là các bộ, ban, ngành duy trì hoạt động bằng các khoản thu từ thuế cũng chính là chủ thể phải có trách nhiệm duy trì môi trường kinh doanh lành mạnh và công bằng để NNT có điều kiện phát triển, tăng thu nhập và làm tăng các khoản đóng góp về thuế. Từ quan hệ sử dụng các khoản thu từ thuế, có thể thấy Nhà nước thực chất đã trở thành chủ thể “phục vụ” theo đúng nghĩa hơn là chủ thể “quyền lực”. Tiếp đó, các khoản thu từ thuế góp phần quan trọng giúp Nhà nước tổ chức điều hành xã hội, cung ứng các tiện ích công cộng. Do điều kiện tài chính quốc gia hạn hẹp, vay nợ trong và nước ngoài đã trở thành kênh huy động chủ yếu để đầu tư phát triển.
  • Bức tranh tài chính trong Dự toán NSNN không thể hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của quốc gia mà chỉ phản ánh một phần các hoạt động thu chi trong năm ngân sách. Vấn đề đặt ra là nguồn tài chính nào sẽ được cân đối để trả các khoản vay nợ đến hạn? Đầu tư công đối với các công trình không có khả năng thu hồi vốn sẽ không tạo ra lợi ích cho NSNN một cách trực tiếp, nhưng kết quả đầu tư công lại đóng vai trò tích cực kích thích phát triển kinh tế, tăng thu nhập quốc dân, tạo ra lợi ích cho NNT. Sự tăng lên về giá trị tài sản của NNT sẽ có tác động tích cực trong tạo nguồn thu cho NSNN, đồng thời các khoản thu từ thuế trở thành nguồn tài chính để trả nợ cho các khoản vay của Nhà nước. Tuy nhiên, Theo Tổng cục Thống kê, ước tính năm 2013, số DN gặp khó khăn phải giải thể hoặc ngừng hoạt động là 60.737 DN, tăng 11,9% so với năm 2012 [61]. DN ngừng nộp thuế và tình trạng thất nghiệp đáng báo động đang làm xói mòn lòng tin về vai trò của Nhà nước trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Điều đương nhiên, Nhà nước khó có thể kỳ vọng nhiều về các khoản thuế trực thu và gián thu nộp vào NSNN từ DN. Để khắc phục tình trạng này, Nhà nước cần ban hành kịp thời các chính sách kinh tế, tài chính có hiệu quả để giúp cho DN có thể tồn tại và phát triển.

1.4. Bản chất và phân loại quyền của người nộp thuế

Quan niêṃ về quyền của người nộp thuế trong quan hê ̣pháp luật nói chung thì quyền của chủ thể tham gia quan hệ pháp luật là cách xử sự mà pháp luật trao cho chủ thể được quyền lưạ choṇ thưc̣ hiêṇ . Nói cách khác , quyền của chủ thể là khả năng của chủ thể xử  sự theo cách thức nhất định, đươc̣ pháp luâṭ cho phép. NNT là một chủ thể trong quan hê ̣pháp luâṭ thuế, do vâỵ quyền của NNT chính là khả năng của NNT đươc̣ phép xử sự  một cách nhất định mà pháp luật thuế ghi nhâṇ.  Đặc trưng quyền của NNT Quyền của NNT mang những đăc̣ điểm chung của quyền chủ thể trong quan hê ̣pháp luâṭ, đó là :

  • Môṭ là , khả năng xử sự theo cách thức nhất định mà pháp luâṭ cho phép.
  •  Hai là , khả năng yêu cầu các chủ thể khác chấm dứt hoạt động cản trở viêc̣ thưc̣ hiêṇ quyền nghiã vụ của mình và yêu cầu ho ̣tôn troṇ g các nghiã vu ̣tương ứng phát sinh từ quyền và nghiã vụ này.

Xem thêm:

2.2.Thực trạng về thông tin người nộp thuế trong pháp luật quản lý thuế tại chi cục thuế thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu

      2.2.1. Thông tin về hướng dẫn NNT thực hiện việc nộp thuế; cung cấp thông tin, tài liệu để thực hiện nghĩa vụ, quyền lợi về thuế

  • Cơ chế một cửa tại Lai Châu đã đi vào vận hành thống nhất toàn thành phố, song thực tế cho thấy rằng, việc giải thích chính sách vẫn còn thực hiện ở một số bộ phận khác (kiểm tra thuế, kê khai thuế), việc này không đơn thuần là do thói quen, và hầu hết các vướng mắc của NNT chủ yếu vẫn được đáp ứng ở các kênh này. Sự phân tán này ít nhiều đã tạo ra sự thiếu thống nhất trong quá trình hướng dẫn, giải thích chính sách cho NNT, làm thiếu tin tưởng từ phía NNT đối với bộ phận một cửa, bởi không ít trường hợp xin tư vấn chỉ để thăm dò hay đối chứng
  • Thực tế này đòi hỏi, một mặt cần tăng cường lực lượng cán bộ có chuyên môn và phẩm chất tốt cho bộ phận một cửa; mặt khác, phải có biện pháp để cán bộ tại bộ phận một cửa phải là người phát ngôn duy nhất của cơ quan thuế, xét về mặt tuyên truyền – hướng dẫn -giải thích chính sách thuế cho NNT.
  • Mặt khác, khi đến cơ quan thuế để giải quyết các yêu cầu, thủ tục về thuế, NNT phải tuân thủ đúng các quy định của cơ quan thuế, tiếp xúc trực tiếp với cán bộ thuế tại bộ phận một cửa để được hướng dẫn và thực hiện việc nộp các hồ sơ yêu cầu và nhận kết quả giải quyết, mọi giao dịch phải đi đúng cửa này. NNT không tự ý tiếp xúc trực tiếp với cán bộ thuế thuộc các bộ phận chuyên môn để giải quyết yêu cầu, thủ tục hành chính thuế, tuyệt đối không được đưa bất kỳ một khoản thù lao nào cho cán bộ, công chức thuế mà không có trong quy định đã được công khai tại các văn bản pháp luật và tại bảng niêm yết ở trụ sở của cơ quan thuế. NNT phải chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu vi phạm các quy định này.

 2.2.2.Thông tin về  yêu cầu cơ quan quản lý thuế giải thích việc tính thuế, ấn định mức thuế cho NNT

  • Tại chi cục thuế thành phố Lai Châu, nếu trowng trường hợp NNT không thực hiện được đầy đủ sổ sách kế toán, hoá đơn chứng từ theo quy định thì áp dụng phương pháp ấn định thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế. Việc ấn định phải theo đúng nguyên tắc, trình tự và thủ tục của Luật Quản lý thuế, không phải ấn định tùy tiện. Theo Luật Quản lý thuế, NNT theo phương pháp kê khai bị ấn định thuế trong các trường hợp sau đây:
  • Không đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau 10 ngày, kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế; không khai thuế, không nộp bổ sung hồ sơ khai thuế theo yêu cầu của cơ quan thuế hoặc khai thuế không chính xác, trung thực, đầy đủ về căn cứ tính thuế; không khai thuế, không nộp bổ sung hồ sơ khai thuế theo yêu cầu của cơ quan thuế hoặc khai thuế không chính xác, trung thực, đầy đủ về căn cứ tính thuế; không phản ánh hoặc phản ánh không đầy đủ, trung thực, chính xác số liệu trên sổ kế toán để xác định nghĩa vụ thuế

2.2.3. Thông tin về giữ bí mật thông tin cho người nộp thuế theo quy định của pháp luật

  • Thực tế trước đây, tại Lai Châu đã có những phản ứng trái ngược trong xã hội, khi cơ quan thuế công bố danh tính và mức thuế của những cá nhân có thu nhập cao nhất tại một địa phương. Có ý kiến cho rằng, việc làm đó vi phạm các nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ bí mật đời tư, thiết lập trong luật dân sự; ngược lại, ý kiến khác, công chúng có quyền “tò mò” về sự sung túc của người này, người nọ, bởi suy cho cùng, sự “tò mò” ấy mang ý nghĩa lành mạnh của sự ngưỡng mộ, tôn vinh của xã hội đối với những người đã và đang thành công bằng tài năng, trí tuệ của riêng mình trong xã hội, nghề nghiệp. Tuy nhiên, mọi tranh cãi lúc đó về chuyện này trên bình diện pháp lý đều vô ích, bởi luật pháp ở Việt Nam vẫn còn loay hoay trong việc xây dựng các khái niệm đời công và đời tư của con người. Vì lý do đó, chưa thể đặt vấn đề công khai các thông tin về tài sản cá nhân là hợp pháp hay không (đây là nói công dân bình thường, không nói công chức từ cấp bậc nào đó trở lên phải công khai tài sản theo quy định của Luật Phòng chống tham nhũng).
  • Luật Quản lý thuế đã có quy định, cơ quan thuế có trách nhiệm giữ bí mật thông tin của NNT. Chẳng hạn, Điều 73 Luật Quản lý thuế năm 2006 quy định: Cơ quan thuế, công chức thuế, người đã là công chức quản lý thuế, tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế phải giữ bí mật thông tin của NNT theo quy định của pháp luật (trừ trường hợp, cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm cung cấp thông tin của NNT cho các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án; cơ quan thanh tra, cơ quan kiểm toán nhà nước; các cơ quan quản lý khác của Nhà nước theo quy định của pháp luật; cơ quan quản lý thuế nước ngoài phù hợp với điều ước quốc tế về thuế mà Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên)… Bởi vậy, điều cần làm, trước cả việc xây dựng các quy tắc pháp lý cần thiết, là phổ biến quan niệm lành mạnh về quyền sở hữu tư nhân, quyền làm giàu chính đáng, để con người tập trung sự quan tâm và nỗ lực của bản thân vào việc làm thế nào để tự mình trở nên giàu có, hơn là vào việc quan tâm đến sự giàu có của người khác. Với sự phổ biến của ý thức làm giàu chính đáng, sự tò mò của xã hội sẽ tự điều chỉnh và trở nên có chừng mực. Người có tài sản không còn cảm thấy sức ép từ sự chú ý của công chúng và hoàn toàn thoải mái khi các thông tin về tài sản, về mức thuế đóng cho Nhà nước của mình được công bố. Việc công bố các thông tin về tình hình tài sản của cá nhân, cũng cần được thực hiện theo cung cách bình thường nhất trong cuộc sống, không bị coi là chuyện giật gân.

2.2.4. Thông tin về bồi thường thiệt hại do cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế gây ra theo quy định của pháp luật

  • Khi cơ quan thuế ra quyết định phạt không đúng, hoặc quyết định thu sai thì NNT có quyền khiếu nại quyết định xử lý của cơ quan này lên cơ quan quản lý cấp trên hoặc cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định. Khi cơ quan có thẩm quyền quyết định công nhận quyết định thu, phạt là sai, thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của cơ quan thuế cấp trên hoặc cơ quan có thẩm quyền thì NNT có quyền được thoái trả tiền thuế, tiền phạt đã nộp. Mặt khác, nếu quyết định của cơ quan có thẩm quyền điều tiết thuế sai gây thiệt hại cho NNT thì người ra quyết định còn phải bồi thường thiệt hại và chịu trách nhiệm vật chất.
  • Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại trong các trường hợp sau: quyết định hoàn thuế, ấn định thuế không đúng quy định của pháp luật; xử lý và ra quyết định xử phạt hành chính thuế sai quy định của pháp luật về thuế; xử lý và ra quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế và các quyết định khác về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan trái quy định; áp dụng các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính không đảm bảo căn cứ và yêu cầu theo đúng quy định của pháp luật về thuế, hải quan. Mặt khác, trường hợp cán bộ, công chức thuế, hải quan có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại về tiền, tài sản cho người bị thiệt hại nhưng được xác định là hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì cơ quan quản lý thuế không phải bồi thường thiệt hại. Trường hợp người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì cơ quan quản lý thuế chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của cán bộ công chức thuế, hải quan gây ra.
  • Để đáp ứng quyền được bồi hoàn một cách xứng đáng, kịp thời, Bộ Tài chính cần khẩn trương có thông tư hướng dẫn.

2.2.5. Thông tin về yêu cầu cơ quan quản lý thuế xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế

  • Để thông tin này được đảm bảo thực hiện một cách nhanh nhất, có thể giao nhiệm vụ này cho bộ phận một cửa, trên cơ sở hệ thống thông tin quản lý thuế của các cấp mà bộ phận một cửa có thể tra khảo và xác nhận, không nhất thiết phải giao cho phòng kê khai và kế toán thuế. Trường hợp hồ sơ đề nghị xác nhận không đúng với số liệu trong cơ sở dữ liệu của ngành thuế thì trao đổi ý kiến với phòng kê khai và kế toán thuế để xác nhận cho NNT.

Cách làm đề tài chuyên đề thực tập: Cơ Sở Lý Luận Về Thông Tin Người Nộp Thuế Trong Pháp Luật Quản Lý Thuế Tại Chi Cục Thuế

Trên đây là mẫu đề tài chuyên đề thực tập mình làm sơ lược để cho các bạn tham khảo qua, nếu bạn nào có nhu cầu cần hỗ trợ đề tài chuyên đề thực tập này hoặc muốn làm đề tài khác với chuyên đề thực tập: Cơ Sở Lý Luận Về Thông Tin Người Nộp Thuế Trong Pháp Luật Quản Lý Thuế Tại Chi Cục Thuế thì có thể liên hệ qua sđt hoặc zalo: 0917 193 864

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *