TOP 8 Cơ sở lý luận về ngành Luật trong bài chuyên đề tốt nghiệp

TOP 8 Cơ sở lý luận về ngành Luật trong bài chuyên đề tốt nghiệp. Bài viết này sẽ giúp các bạn sinh viên đang làm bài chuyên đề tốt nghiệp về ngành Luật, cách làm cơ sở lý luận bài chuyên đề ngành Luật Các bạn có thể tải về dưới bài viết này nhé. Dưới đây là các cơ sở lý luận, các bạn sinh viên nào muốn làm bài chuyên đề hoàn thiện liên hệ với hotrothuctap.com qua Zalo 0917 193 864

Trong quá trình làm chuyên đề tốt nghiệp nếu các gặp khó khăn trong quá trình làm bài như chọn đề tài, công ty, làm bài hoàn chỉnh, có thể liên hệ với dịch vụ viết thuê chuyên đề tốt nghiệp của Admin qua https://zalo.me/0917193864 nhé

Cơ sở lý luận về giao dịch đảm bảo trong bài chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật

Khái niệm về giao dịch bảo đảm

  • Theo khoản 1 Điều 323 BLDS 2005 thì, “Giao dịch bảo đảm là giao dịch dân sự do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm quy định tại khoản 1 điều 318 của Bộ luật này”; bao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, tín chấp. Bên cạnh đó, nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch của các quan hệ về giao dịch bảo đảm, BLDS 2005 quy định: các giao dịch bảo đảm được đăng ký theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm (Điều 323, Điều 325), và xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm theo thứ tự đăng ký giao dịch bảo đảm.
    Cầm cố tài sản là việc một bên giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự (Điều 326, Bộ luật Dân sự 2005).
  • Thế chấp tài sản là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp” (Điều 432, Bộ luật Dân sự 2005) .
    Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự. Việc đặt cọc phải được lập thành văn bản.
  • Trong trường hợp, hợp đồng dân sự được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thoả thuận khác (Điều 358, Bộ Luật Dân sự 2005)
  • Ký cược là việc bên thuê tài sản là động sản giao cho bên cho thuê một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm việc trả lại tài sản thuê. Trong trường hợp tài sản thuê được trả lại thì bên thuê được nhận lại tài sản ký cược sau khi trừ tiền thuê; nếu bên thuê không trả lại tài sản thuê thì bên cho thuê có quyền đòi lại tài sản thuê; nếu tài sản thuê không còn để trả lại thì tài sản ký cược thuộc về bên cho thuê (Điều 359, Bộ Luật Dân sự 2005)

TẢI FILE MIỄN PHÍ

Cơ sở lý luận về quyền sử dụng đất trong luật đất đai

Khái niệm quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất

  • Theo từ điển Luật học: “Quyền sử dụng đất là quyền của các chủ thể được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê hoặc được chuyển giao từ những chủ thể khác thông qua việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho….từ những chủ thể khác có quyền sử dụng đất”. Xét về bản chất pháp lý QSDĐ là một dạng quyền tài sản đặc biệt trong việc khai thác những thuộc tính có lợi từ đất một cách hợp pháp nhằm làm thỏa mãn nhu cầu và lợi ích vật chất của chủ thể có QSDĐ.
  • Theo điều 166, Luật Đất đai 2013 quy định các quyền chung của NSDĐ thì NSDĐ có các quyền sau: Được cấp GCNQSD đất; Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất;…; Được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình; Được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm QSDĐ hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.
  • Như vậy chúng ta có thể hiểu: QSDĐ là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành quy định cho NSDĐ được hưởng các quyền cụ thể trong quá trình khai thác và sử dụng đất. QSDĐ của người sử dụng đất được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực của Nhà nước.
  • Điều 4 Luật Nhà ở năm 2014 đã quy định về Quyền có chỗ ở và QSHN ở như sau: “Hộ gia đình, cá nhân có quyền có chỗ ở thông qua việc đầu tư xây dựng, mua, thuê, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế, nhận góp vốn, nhận đổi, mượn, ở nhờ, quản lý nhà ở theo ủy quyền và các hình thức khác theo quy định của pháp luật”. Như vậy, có trường hợp tài sản trên đất không thuộc quyền sở hữu của người có QSDĐ hợp pháp hoặc có trường hợp chủ thể có QSDĐ hợp pháp nhưng QSHN ở và tài sản khác gắn liền với đất lại bất hợp pháp (chẳng hạn như: nhà ở, công trình xây dựng thuộc diện phải xin cấp phép xây dựng nhưng NSDĐ không xin cấp phép xây dựng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các tài sản tạo ra trên đất không đúng mục đích sử dụng đất đã được phê duyệt).
  • Tóm lại, QSHN ở và tài sản gắn liền với đất cần được xem xét trong mối quan hệ qua lại với QSDĐ. Các quyền này được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện trên thực tế.
  • Như vậy chúng ta có thể hiểu: Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành công nhận mối quan hệ hợp pháp về nhà ở và các tài sản trên đất của một chủ thể với Nhà nước và với các chủ thể khác. Quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất được Nhà nước bảo đảm bằng quyền lực của nhà nước.

Khái niệm quyền sử dụng đất ở của cá nhân, hộ gia đình

  • Khoản 1 Điều 144. Luật đất đai 2013 quy định “Đất ở tại đô thị bao gồm đất để xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình phục vụ đời sống, vườn, ao trong cùng một thửa đất thuộc khu dân cư đô thị, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.”
  • Như vậy chúng ta có thể hiểu: QSDĐ ở của cá nhân, hộ gia đình là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành quy định cho các cá nhân, hộ gia đình được xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình phục vụ đời sống, vườn, ao trong cùng một thửa đất. QSDĐ ở của cá nhân, hộ gia đình được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực của Nhà nước.

TẢI FILE MIỄN PHÍ

Cơ sở pháp lý về các hình thức khuyến mại trong bài chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật

Khái niệm và đặc điểm về khuyến mại

  • Theo Khoản 1 Điều 88 Luật Thương mại 2005: “Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định”.
  • Căn cứ quy định của Luật Thương mại, khuyến mại có những đặc điểm sau:
  • – Chủ thể thực hiện hành vi khuyến mại là thương nhân, để tăng cường cơ hội thương mại thương nhân được phép tự mình tổ chức thực hiện việc khuyến mại, cũng có thể lựa chọn dịch vụ khuyến mại cho thương nhân khác để kinh doanh hưởng thù lao.
  • – Cách thức và mục đích xúc tiến thương mại thông qua khuyến mại là dành cho khách hàng những lợi ích nhất định để khuyến khích khách hàng sử dụng hàng hóa , dịch vụ của thương nhân. Lợi ích dùng để khuyến mại cho khách hàng có thể là lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất.
  • – Đối tượng được khuyến mại có thể là khách hàng hoặc các trung gian phân phối như các đại lý bán hàng
  • – Hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại là hàng hóa dịch vụ được thương nhân sử dụng các hình thức khuyến mại để xúc tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ đó. Hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại phải là hàng hóa, dịch vụ được kinh doanh hợp pháp.

Quyền và nghĩa vụ của thương nhân khi thực hiện khuyến mại

  • Khi tổ chức hoạt động khuyến mại, thương nhân có quyền:
  • – Lựa chọn hình thức, thời gian, địa điểm khuyến mại;
  • – Quy định những lợi ích cụ thể mà khách hàng được hưởng;
  • – Tự mình tổ chức thực hiên các hình thức khuyến mại theo quy định của pháp luật;
  • – Thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại theo quy định của pháp luật
  • Thương nhân tổ chức hoạt động khuyến mại có các nghĩa vụ cơ bản sau:
  • – Thực hiện đầy đủ các quy định về trình tự thủ tục pháp lý cần thiết để thực hiện các hình thức khuyến mại.
  • – Thông báo công khai các nội dung, thông tin về hoạt động khuyến mại cho khách hàng. Ví dụ như: tên hoạt động khuyến mại, giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ khuyến mại, thời gian khuyến mại, ngày bắt đầu, ngày kết thúc và địa bàn hoạt động khuyến mại
  • – Nghĩa vụ thực hiện đúng chương trình khuyến mại đã thông báo và cam kết với khách hàng.
  • – Nghĩa vụ trích 50% giá trị giải thưởng đã công bố vào ngân sách nhà nước trong trường hợp không có người trúng thưởng (đối với các hình thức trao thưởng mang tính may rủi).
  • – Tuân thủ các thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ khuyến mại đã ký kết.

TẢI FILE MIỄN PHÍ

Cơ sở lý luận về quảng cao thương mại và hoạt động quảng cáo thương mại bị cấm

  • Ở Việt Nam, vào giữa những năm 90 của thế kỷ XX, cùng với đường lối của Đảng, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước, quảng cáo thương mại bắt đầu có mặt trên các trang báo, tạp chí, trong các chương trình phát thanh, truyền hình, nguồn kinh phí từ quảng cáo dần dần tăng lên, đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với các cơ quan truyền thông đại chúng ở nước ta [27 tr.158]. Xuất phát từ tính chất kinh tế xã hội của quảng cáo, quảng cáo được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau, với nhiều định nghĩa khác nhau.
  • Quảng cáo theo nghĩa Hán Việt tức là báo cho biết (cáo) một cách rộng rãi (quảng) đến nhiều người [36].
    Trong tiếng La tinh, “quảng cáo” được dịch là “adventure”, có nghĩa là sự thu hút lòng người, gây sự chú ý và gợi dẫn. Thuật ngữ này được sử dụng trong tiếng Anh là “advertise”, có nghĩa là gây sự chú ý cho người khác, thông báo cho người khác về sự kiện nào đó [16; tr.l51].
  • Theo Hiệp hội Quảng cáo Hoa Kỳ (AMA) thì “Quảng cáo là hoạt động truyền bá thông tin, trong đó nói rõ ý đồ của chủ quảng cáo, tuyên truyền hàng hóa dịch vụ của chủ quảng cáo trên cơ sở có thu phí quảng cáo, không trực tiếp nhằm công kích người khác” [27].
  • Theo tài liệu Kinh doanh quảng cáo ở Anh: “Quảng cáo là thông điệp được chi trả phí bởi người gửi chúng đi, có mục đích và thông tin gây ảnh hưởng trên người nhận chúng”.
    Còn tại Việt Nam, khái niệm quảng cáo được quy định tại Pháp lệnh Quảng cáo 2001. Theo đó thì “Quảng cáo là giới thiệu đến người tiêu dùng về hoạt động kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ, bao gồm dịch vụ có mục đích sinh lời và dịch vụ không có mục đích sinh lời” (Điều 4).
  • Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về quảng cáo, tuy nhiên, các khái niệm này ít nhiều đều đã thể hiện các đặc điểm cơ bản của quảng cáo. Đó là:
  • Quảng cáo không dành cho một cá nhân đơn lẻ mà quảng cáo dành cho số đông, quảng cáo mang tính đại chúng. Hoạt động quảng cáo có tính định hướng sự lựa chọn hàng hóa, dịch vụ của người tiêu dùng, do đó, mục đích của quảng cáo là đưa các thông tin đến với càng nhiều người càng tốt cho sự kinh doanh của nhà cung cấp dịch vụ. Tất cả mọi người đều tiếp xúc với thông tin mà nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ đưa ra chính là điều mà nhà quảng cáo mong muốn.
  • Quảng cáo là sự truyền tin một chiều, mang tính đơn phương xuất phát từ người cung cấp thông tin đến những đối tượng, chủ yếu là người tiêu dùng.
  • Quảng cáo phải thực hiện thông qua các phương tiện trung gian. Để truyền tải các thông tin đến đối tượng, nhà quảng cáo phải sử dụng các phương tiện truyền tải như báo chí, băng rôn, tờ rơi, phát thanh, truyền hình… nhằm đảm bảo thông tin được truyền tải đúng dụng ý của nhà quảng cáo và thông tin lan rộng nhất có thể.
  • Đa số pháp luật các nước trên thế giới đều không đưa ra khái niệm quảng cáo thương mại mà chỉ đề cập đến khái niệm quảng cáo. Sở dĩ như vậy là vì mặc dù quảng cáo bao gồm cả quảng cáo không mang tính thương mại, nhưng đặc trưng của quảng cáo ngày nay là gắn liền với lợi nhuận, với thương nhân, mang tính thương mại và trở thành một trong những hoạt động thương mại điển hình.
  • Theo Chỉ thị số 84/450/EEC ngày 10/9/1984 của Hội đồng và Nghị viện Châu Âu liên quan đến quảng cáo gây nhầm lẫn và quảng cáo so sánh, quảng cáo được hiểu là “đưa ra sự tuyên bố dưới bất kỳ hình thức nào liên quan đến hoạt động thương mại, kinh doanh, nghề thủ công, nghề chuyên nghiệp nhằm xúc tiến việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ; bao gồm cả bất động sản, quyền và nghĩa vụ” (Điều 1). Chỉ thị số 97/360 CE của Hội đồng và Nghị viện Châu Âu cũng nêu rõ: “Quảng cáo không bao gồm các thông tin do cơ quan phát thanh phát có liên quan tới chương trình của cơ quan và các sản phẩm phụ trực tiếp của các chương trình này; các thông tin về dịch vụ công cộng và các lời kêu gọi cho việc làm từ thiện miễn phí” (Điều 18).
  • Luật quảng cáo của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày 27-10-1994 (có hiệu lực từ ngày 01-2-1995) quy định tại Điều 2: “Quảng cáo” được hiểu là một quảng cáo mang tính thương mại mà người cung cấp hàng hóa, dịch vụ giới thiệu cho hàng hóa dịch vụ của mình, cho dù là trực tiếp hay gián tiếp, thông qua các hình thức thông tin công cộng”; “người quảng cáo được hiểu là một tư cách pháp nhân, dù là tổ chức kinh tế hay pháp nhân mà mục đích của họ là bán các mặt hàng, dịch vụ thiết kế, sản xuất hay xuất bản thuộc lĩnh vực quảng cáo”.
  • Ở Hoa Kỳ, hoạt động quảng cáo được điều chỉnh bởi rất nhiều quy định pháp luật của các bang và liên bang. Luật Lanham 15 U.S.C, một văn bản quan trọng trong số đó, có nội dung quy định quảng cáo: “bao gồm phát ngôn thương mại mà một người cạnh tranh sử dụng thể hiện mục đích gây ảnh hưởng tới người tiêu dung để mua hàng hóa hay dịch vụ của mình”. Cơ quan liên bang có thẩm quyền điều tiết hoạt động quảng cáo là Hội đồng thương mại liên bang.
  • Luật về quảng cáo và khuyến mại của Anh, Luật quảng cáo của Xingapo, Luật quảng cáo của Philippin… đều có nội dung quy định các vấn đề liên quan đến quảng cáo thương mại.
  • Như vậy, luật pháp nhiều nước trên thế giới coi quảng cáo không phải là một hoạt động thông tin đơn thuần mà là một hoạt động thông tin mang tính thương mại. Bản thân khái niệm “quảng cáo” khi được sử dụng trong pháp luật của các nước đã có ý nghĩa là “quảng cáo thương mại”, vì nó được thực hiện bởi thương nhân và có nội dung quảng cáo về hàng hóa, dịch vụ của thương nhân. Các điều ước quốc tế song phương và đa phương cũng ghi nhận quảng cáo là một hoạt động thương mại và đưa vào nội dung đàm phán. Như vậy có thể thấy luật pháp của hầu hết các nước đều coi quảng cáo là hoạt động thương mại, “quảng cáo” được đồng nghĩa với “quảng cáo thương mại” và không hình thành khái niệm “quảng cáo phi thương mại” [43 tr.35].
    Pháp luật hiện hành của Việt Nam có sự không đồng nhất trong khái niệm quảng cáo và quảng cáo thương mại như đa số pháp luật các nước trên thế giới.
  • Từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp đưa ra hai khái niệm “quảng cáo” và “quảng cáo thương mại”. Theo đó thì “quảng cáo” đước hiểu là “hoạt động giới thiệu đến người tiêu dùng về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, bao gồm dịch vụ có mục đích sinh lời và dịch vụ không có mục đích sinh lời nhằm tạo ra sự hấp dẫn và kích thích người tiêu dùng thu hút người tiêu dùng quan tâm đến sản phẩm của mình”. Còn “quảng cáo thương mại” được hiểu là “hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ” [22; tr.635]
  • Tuy nhiên, theo Đại Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam thì quảng cáo được hiểu là: “tuyên truyền, giới thiệu bằng nhiều hình thức về hàng hóa, dịch vụ hay về hãng kinh doanh những hàng hóa đó nhằm hấp dẫn và thuyết phục người mua để đẩy mạnh việc tiêu thụ hàng hóa” [14] và theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ thì quảng cáo là: “trình bày để giới thiệu rộng rãi cho nhiều người biết nhằm tranh thủ được nhiều khách hàng” [15]. Như vậy, quảng cáo theo nghĩa thông dụng nhất, thường được hiểu là quảng cáo thương mại.
  • Luật Thương mại năm 2005 thì “Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hóa của mình” (Điều 102).
    Tuy nhiên, theo Pháp lệnh quảng cáo năm 2001 định nghĩa “Quảng cáo là giới thiệu đến người tiêu dùng về hoạt động kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ, bao gồm dịch vụ có mục đích sinh lời và dịch vụ không có mục đích sinh lời. Dịch vụ có mục đích sinh lời là dịch vụ nhằm tạo ra lợi nhuận cho tổ chức, cá nhân cung ứng dịch vụ.
  • Dịch vụ không có mục đích sinh lời là dịch vụ không nhằm tạo ra lợi nhuận cho tổ chức, cá nhân cung ứng dịch vụ” (Điều 4).
  • Như vậy, có thể hiểu đối tượng của hoạt động quảng cáo có thể là hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có khả năng mang lại lợi nhuận cho tổ chức, cá nhân hoặc các dịch vụ, thông tin nhằm thực hiện một mục tiêu chính trị, văn hóa, xã hội. Tổ chức, cá nhân có nhu cầu quảng cáo có thể là thương nhân hoặc không phải thương nhân.
  • Nói cách khác, theo quy định của pháp luật Việt Nam, quảng cáo gồm hai loại: quảng cáo không có mục đích sinh lời – “quảng cáo phi thương mại” và quảng cáo có mục đích sinh lời – “quảng cáo thương mại”. Nói cách khác, quảng cáo thương mại hay còn gọi là quảng cáo có mục đích sinh lời, chỉ là một bộ phận trong quảng cáo nói chung.

TẢI FILE MIỄN PHÍ

Trên đây là TOP 8 Cơ sở lý luận pháp lý trong chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật cho các bạn sinh viên học ngành Luật tham khảo. Hiện nay hotrothuctap.com có nhận viết báo cáo thực tập, xin dấu doanh nghiệp và làm trọn gói, nếu các bạn sinh viên có nhu cầu thì inbox với mình qua https://zalo.me/0917193864 để được tư vấn và hỗ trợ nhé

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *